Giải Đoán Tử Vi Trọn Đời
Kimberly Mai Nguyễn
21:12 10/06/1986
Monterey Park, California, USA
34N04, 118W07
Bính Dần, Tháng 5, Ngày 4, Giờ Tuất
Mệnh Lô Trung Hỏa
Dương Nữ
![]()
1. Tổng Quát Cuộc Đời
Đương số là nữ
tuổi Bính Dần, mạng Lô
Trung Hỏa, cung Mệnh có các sao quan
trọng như Liêm Trinh, Tuế
Phá, Hóa Kỵ, Thiên Mã,
Đại Hao, Đẩu Quân,
Tả Phù, Phượng Các,
cùng với các bộ sao Văn
Xương, Văn Khúc, Ân Quang,
Thiên Quý, Thai Phụ, Phong Cáo,
Hóa Khoa ở các cung Tài
Bạch, Thiên Di, Quan Lộc chiếu
về, tức thuộc cách Tử
Phủ Vũ Tướng.
Đương số thuộc
cách này với sao chính là
Liêm Trinh tọa thủ, nên là
người nghiêm nghị, can
đảm, đoan chính, thanh cao,
đảm đang, đôi khi
có sự nóng nảy, cứng
cỏi hay khắc nghiệt, nhưng
là người có tài, có
hạnh, có nhiều năng khiếu
bẩm sinh về thủ công, nghệ
thuật, có danh tiếng và khá
giả.
Tuy nhiên, do
có sao Hóa Kỵ đóng trong cung
Mệnh và cung Thiên Di có các
sao Tham Lang, Thái Tuế, Văn Khúc,
Tiểu Hao giáp hai sao Linh Tinh, Hỏa Tinh,
là dấu vết di truyền của
họ ngoại có người
chết bất đắc kỳ
tử hay đau yếu tật nguyền
vĩnh viễn. Nên
đương số ra ngoài
là người có tài thi
thố khắp nơi, thường
phiêu bạt, không chấp nhận
sự áp đặt, muốn
sửa đổi hoàn cảnh,
thời thế, có sức thuyết
phục người khác, hay có
năng khiếu về hùng biện,
diễn thuyết và nổi tiếng.
Nhưng cũng chính các sao này
khiến cho cuộc đời của
đương số hay bị
sự đố kỵ, ghen ghét,
hiềm khích, khiến công danh, danh
vọng đôi khi có sự
trắc trở, gián đoạn,
buồn phiền, bị tai nạn về
danh tiếng, pháp luật.
Do có hai sao Lưu Hà,
Phá Toái giáp hai bên cung
Mệnh, nên nếu
đương số có bị
những rủi ro nêu trên dù
là vật chất hay tinh thần, trong
đời sẽ có mối
lợi lớn về tiền hay danh
dự do được bồi
thường, tức trong cái rủi
có cái may. Nếu không như
vậy thì đương số
trong đời sau này có
được sự giúp
đỡ hay có nguồn bảo
trợ của tha nhân hay tổ
chức xã hội, đoàn
thể về tiền tài, vật
chất để đương
số thực hiện những
ước mơ của mình
nhưng phải đem lại lợi
lộc cho tập thể, cộng
đồng.
2. Công Danh & Nghề Nghiệp
Cung Quan Lộc trong lá số
của đương số là
cung chủ về công danh, nghề
nghiệp, sự nghiệp như thế
nào, trắc trở hay hanh thông,
sớm thành danh hay chậm trễ,
có hay bị gián đoạn
hoặc phải thay đổi nghề
hay không.
Với các
sao chính tinh Vũ Khúc, Thiên
Phủ là các loại sao tốt
nên đường công danh
sự nghiệp của
đương số sẽ thành
đạt, có uy quyền, chức
vụ quan trọng trong xã hội.
Nhóm sao này lại có thêm
các sao tốt như Hóa Khoa, Văn
Xương, Tấu Thư, Phong Cáo,
Thiên Quý, Thiên Phúc chủ
về khoa bảng, học vấn,
thông minh, hiếu học, hay tìm
tòi, hiếu kỳ, dễ
đỗ đạt, nghiên
cứu, hạnh kiểm tốt, vừa
có học lại có hạnh,
vừa có tài vừa có
đức; Cho nên sẽ là
người có văn tài,
vừa có danh chức lại vừa
có danh thơm tiếng tốt.
Tuy nhiên, cung Quan Lộc
này có cung Nô Bộc
đứng thế nhị hợp
với các sao hung như Thiên
Hình, Địa Không, Linh Tinh,
Quả Tú, Trực Phù cùng
với sao Tướng Quân và
cặp sao Thái Âm, Thái
Dương mờ nhạt, nên
sự tốt đẹp của
đường công danh sự
nghiệp của đương
số bị giảm đi một
phần nào. Nguyên do là sự
tập hợp các sao vừa nêu
biểu tượng cho bổn mạng
không có người phò
tá, bạn bè tốt
đẹp, thiếu sự trung thành,
kém về tài năng, hay nổi
loạn, không cùng chí
hướng làm cho
đường công danh phải
gặp một thời lận
đận, bị gián
đoạn, làm ơn mắc
oán, thị phi, khó làm việc
chung với ai lâu dài, hoặc do
tính toán sai lầm hay tai nạn
của họ khiến
đương số bị vạ
lây. Do đó trên
đường làm ăn,
đương số cần phải
thận trọng khi muốn có sự
hợp tác, hùn hạp, kết
bạn dù là
để giao thiệp bình
thường cũng vậy. Điều này rất dễ xảy ra vì ngay trong cung Mệnh của đương số đã có sẵn sao Hóa Kỵ là sao chủ sự khắc khẩu, thị phi, và ghen tỵ, mất mát về thế lực, sa sút về hậu thuẫn.
Đứng ở phần tính
chất căn bản của bộ sao
trên, đường công danh
của đương số thích
hợp với các ngành có
liên quan đến kinh tế, tài
chánh, ngân hàng, nhà kế
hoạch gia.
Do có sao
Hóa Kỵ ở cung Mệnh, cung
Thiên Di có sao Tham Lang, Thái Tuế
với hai sao Linh Tinh Hỏa tinh đứng
giáp hai bên, đương
số còn thích hợp với
các ngành nghề có liên quan
đến công nghệ sinh học,
hóa học.
Với cung an
Thân ứng vào cung Tài Bạch
có các sao Tử Vi, Thiên
Tướng có sao Triệt án
ngữ, công danh sự nghiệp
của đương số còn
có thể đắc dụng
và thành đạt trong các
ngành nghề cha truyền con nối.
Tức trước kia song thân học
và làm ngành gì thì
đương số có thể
thành công sự nghiệp trong
những ngành nghề của họ.
Hoặc đương số cũng
được thừa hưởng
những tay nghề khéo tay đặc
sắc của song thân ích dụng
trong việc giao thiệp, ngoại giao.
Cũng ứng vào
bộ sao này, trong dòng đời
đương số cũng nên
tham gia vào các chức vụ mang
tính cộng đồng,
đoàn thể hội đoàn,
hội đồng hương. Tuy
chức vụ chỉ là hư danh
nhưng cũng chính nhờ sự tham
gia vô vụ lợi sẽ đem
lại cho đương số
nhiều cơ hội tạo dựng
được uy tín, niềm
kính trọng của tha nhân.
Đây cũng là phương
tiện giúp cho đương
số gặp quý nhân, bạn
bè tốt giúp đỡ cho
mình những lúc
đường công danh gặp
trở ngại, và cũng là
tạo thêm phước
đức cho bản thân khi lo cho
mọi người.
3. Sự Nghiệp & Tài Lộc
Cung Tài Bạch là cung
chủ về tiền bạc,
tượng trưng cho hạnh phúc
vật chất, trong đó dự
báo tiền bạc của mình hay
của gia đình, cách thủ
đắc tiền bạc, mức
độ giàu hay nghèo, kiếm
tiền khó khăn hay dễ dàng,
khả năng bảo toàn tài
sản, sự may rủi về tiền
bạc trong suốt cuộc đời.
Có thể nói do cung an
Thân là loại cung Mệnh thứ
hai của đương số
đóng vào, nên cung Tài
Bạch là cung rất quan trọng,
ảnh hưởng quyết
định đối với vận
mệnh ở mai hậu. Với hai sao
Tử Vi và Thiên Tướng
bị sao Triệt án ngữ,
đương số không có
phần thừa hưởng di sản
của song thân hoặc
được hưởng rất
ít, phải tự tay tạo dựng
mới có.
Thứ hai,
nhóm sao này còn chủ
đường tài lộc của
đương số tuy cũng
có tiền bạc, có của
cải tích lũy, nhưng cũng
phải có một thời gian gặp
khó khăn, mất mát, bị
giảm lương, lợi tức,
làm nhiều hưởng ít,
giữ của không bền vững,
hoặc phải bôn ba lao lực, thua
kiện. Sự kiện này rất
dễ xảy ra khi thời vận
của đương số ứng
vào giai đoạn 10 năm từ 36
tuổi ta đến 45 tuổi.
Thứ ba, do cung Phúc
Đức xung chiếu với cung Tài
Bạch, nên cung này có tầm
ảnh hưởng rất lớn
đến sự giàu nghèo
của đương số. Trong cung
này có sao Phá Quân, Bạch
Hổ, sao Tuần án ngữ cùng
với cung Thiên Di có sao Tham Lang,
Thái Tuế, giáp Linh Tinh, Hỏa Tinh tuy
chủ họ hàng ly tán, trong
thân tộc có người
chết bất đắc kỳ
tử, nhưng tính chất của
nhóm sao này lại chủ về
đương số
được thừa hưởng
tính di truyền về phát minh,
sáng tạo, có tay nghề lạ
lùng và
độc đáo của
ông bà cha mẹ. Cho nên
đường tài lộc của
đương số cũng
được sung túc và
thụ hưởng lâu dài
ở cuối đời nếu
chính bản thân biết khai
thác tính di truyền về phát
minh sáng tạo này trong ngành
nghề của mình, hay phát huy
được những tiềm
năng bẩm sinh độc
đáo của riêng mình,
dù là phát minh khoa học hay
các môn nghệ thuật, âm
nhạc.
Có thể
nói cho đến cuối
đời, đường tài
lộc, tiền bạc của
đương số tuy không
phải là giàu có lớn
về tiền, nhưng cũng có
sự sung túc về của cải
vật chất hay nhà cửa
đất đai cùng có danh
tiếng trong xã hội.
4. Điền Sản & Nhà Cửa
Cung Điền Trạch trong lá
số là cung chủ về các
bất động sản như
nhà cửa, ruộng vườn, trang
trại, cơ xưởng, xí
nghiệp, công ty, cửa tiệm
buôn bán. Các động
sản như hoa màu, sản phẩm
chế biến, hàng hóa, xe cộ,
phi cơ, tàu bè. Ngoài ra do
vị trí của cung Điền
Trạch trong lá số ứng hợp
với thời vận trung niên
của đời người,
nên cung này còn
được xem là loại cung
Phúc Đức thứ hai ở
hậu vận do chính mình tự
thân tác nghiệp nữạ Do
đó cung Điền Trạch
đóng vai trò khá quan trọng
quyết định về sự
nghiệp vật chất cũng như
tinh thần, danh tiếng, danh vọng xấu
hay tốt ở cuối đời
như thế nào.
Cung
Điền Trạch của
đương số có sao
Thiên Đồng với sao Tuần
án ngữ nên điền
sản phải tự tay tạo dựng
mới có, hay phải thay đổi
nhiều lần về nơi chốn
cư ngụ. Do có nhiều sao tốt
như Thiên Khôi, Hóa Lộc, Tam
Thai, Phi Liêm nên đương
số có thể tự mình
cùng với người thân hay
được quý nhân giúp
đỡ sớm mua sắm
được nhà
đất trong giai đoạn
từ 26 tuổi đến 35 tuổi.
Nhưng sau đó sẽ có
sự hao tán tuần tự, phải
mua đi bán lại nhiều lần,
phải thay đổi nhiều lần
về nhà
đất, nơi sinh sống
và làm việc nhưng khó
nhọc hoặc không vừa ý,
gặp rắc rối về mua bán
nhà như có sự thua lỗ
về làm ăn đưa
đến bán gấp, khó mua hay
bán nhà do thị trường
địa ốc có sự
thăng trầm bất định
về giá cả, kể cả do
tính toán sai lầm của
đương số đưa
đến sự thiệt hại
ở giai đoạn từ 36 tuổi
đến 45 tuổi.
Tuy
nhiên như đã nói ở
trên, cung Điền Trạch là
loại cung Phúc Đức thứ hai
dự báo cơ nghiệp cùng danh
tiếng, địa vị của
đương số ở cuối
đời. Với sao Thiên
Đồng là sao chủ về
phái nữ hợp với phái
tính của ds, cùng với sao
Thiên Khôi là sao quý nhân
chủ về người
trưởng, con trưởng.
Đương số là con
trưởng nên dù có
gặp phải giai đoạn không
được tốt qua thời
vận như đã nêu, sự
hư hại này cũng không
lớn lao gây khốn khó nặng
cho ds, mà chỉ làm
đương số mất
nhiều mối lợi về
điền sản hoặc danh tiếng,
địa vị, chức vụ
của đương số gặp
ít nhiều khó khăn, gặp
tiểu nhân, việc làm bị
gián đoạn tạm thời,
để rồi sau giai đoạn
này cho đến cuối
đời đương số
cũng có được nhà
đất khang
trang cùng công danh và danh tiếng
của mình cũng được
mọi điều tốt
đẹp.
Đương số
là người nữ thuộc
tuổi Bính Dần nên cung Phi
Bát Trạch của
đương số là cung
Khảm. Do đó việc chọn
hướng nhà và
đặt để vị
trí cho các nơi khác trong nhà
theo các hướng tốt như sau:
Hướng Đông
Nam (từ 112 độ 30 đến 157
độ 29 phút) là
hướng Sanh Khí. Đây
là hướng tốt nhất.
Vị trí ngôi nhà, cửa
chánh, miệng bếp lò, cửa
phòng ngủ nếu ngó về
hướng này là
đại phát toàn
diện về mọi mặt, đem
lại nhiều lợi ích trong
công việc, chức vụ, tiền
tài, học hành, hôn nhân,
sức khỏe tốt đẹp.
Nhưng nếu tại vị trí
này dùng để đặt
bếp lò, làm nhà bếp
thì mọi việc rất khó
thành tựu, sự tính toán
làm ăn hay bị sai lầm, tiền
tài khó tụ.
Hướng Chánh
Đông (từ 67 độ 30
đến 112 độ 29 phút)
là hướng Thiên Ỵ
Đây là hướng tốt
thứ nhì. Vị trí ngôi
nhà, cửa chánh, miệng bếp
lò, cửa phòng ngủ nếu
ngó về hướng này
sẽ làm gia tăng hay thuận
lợi dễ dàng cho công danh
tài lộc. Con cái thành công
trong đường học vấn. Gia
đạo làm ăn hay giao thiệp
dễ gặp quý nhân giúp
đỡ, tránh được
nhiều tai nạn, bệnh tật,
có sức khỏe tốt. Nhưng
nếu tại vị trí này
dùng để đặt bếp
lò, làm nhà bếp thì
mọi việc rất khó khăn,
sức khỏe ngày càng suy
giảm, hay đau yếu.
Hướng Chánh Nam
(từ 157 độ 30 đến 202
độ 29 phút) là
hướng Phước Đức.
Đây là hướng tốt
thứ ba. Vị trí ngôi nhà,
cửa chánh, miệng bếp lò,
cửa phòng ngủ nếu ngó
về hướng này là gia
đạo yên vui và hòa
thuận, sinh sống, làm ăn
gặp được may mắn.
Ngoài ra do tính chất tốt
về tinh thần, tâm linh, nên
tại hướng này nên
đặt bàn làm việc,
bàn học, tiếp khách, hay bố
trí phòng ngủ. Nhưng nếu
tại vị trí này dùng
để đặt bếp lò,
làm nhà bếp thì gia
đạo bất hòa, hôn
nhân hay gặp nhiều trở
ngại.
Hướng
Chánh Bắc (từ 337 độ 30
đến 22 độ 29 phút)
là hướng Phục Vị.
Đây là hướng tốt
thứ tự Vị trí ngôi
nhà, cửa chánh, miệng bếp
lò, cửa phòng ngủ nếu
ngó về hướng này
là gia đạo có cuộc
sống yên lành. Nhưng nếu
tại vị trí này dùng
để đặt bếp lò,
làm nhà bếp thì mọi
việc tiền bạc khó kiếm,
hay hao tán tiền bạc.
Hướng Tây Nam
(từ 202 độ 30 đến 247
độ 29 phút) là
hướng Tuyệt Mạng.
Đây là hướng xấu
nhất. Vị trí ngôi nhà,
cửa chánh, miệng bếp lò,
cửa phòng ngủ nếu ngó
về hướng này là
cuộc sống dễ gặp nhiều
tai biến, nguy nan đến thân
mạng cùng tài sản, vật
chất. Có sự xung đột hay
mâu thuẫn trong gia đình,
phân ly người thân, nay ốm
mai đau, bị vu oan giá họa,
dễ gặp tranh chấp, kiện
tụng trong cuộc sống. Nhưng
nếu tại vị trí này trong
nhà nếu dùng để
đặt bếp lò, làm
nhà kho, nhà vệ sinh thì các
sự kiện xấu trên sẽ
được giải trừ.
Hướng Đông
Bắc (từ 22 độ 30
đến 67 độ 29 phút)
là hướng Ngũ Quỷ.
Đây là hướng xấu
thứ nhì. Vị trí ngôi
nhà, cửa chánh, miệng bếp
lò, cửa phòng ngủ nếu
ngó về hướng này
là cuộc sống dễ gặp
nhiều ưu phiền, gia đạo
bất an, con cái khó dạy
bảo, không vâng lời cha mẹ,
lêu lổng chơi bời, học
hành khó thành đạt.
Ngoài ra tiền bạc khó khăn,
nếu có kiếm được
cũng không cầm giữ
được. Nhưng nếu
tại vị trí này trong nhà
nếu dùng để đặt
bàn thờ thì các sự
kiện xấu trên sẽ
được giải trừ.
Hướng Tây
Bắc (từ 292 độ 30
đến 337 độ 29 phút)
là hướng Lục Sát.
Đây là hướng xấu
thứ bạ Vị trí ngôi
nhà, cửa chánh, miệng bếp
lò, cửa phòng ngủ nếu
ngó về hướng này
là gia đạo bất hòa,
vợ chồng con cái hay bị
phân ly, nghèo đói, làm
ăn dễ bị lừa
đảo, gặp tiểu nhân
dòm ngó hay bị trộm viếng
nhà. Nhưng nếu tại vị
trí này trong nhà nếu dùng
để đặt bếp lò,
nhà kho, nhà vệ sinh thì các
sự kiện xấu trên sẽ
được giải trừ.
Hướng Chánh
Tây (từ 247 độ 30
đến 292 độ 29 phút)
là hướng Họa Hạị
Đây là hướng xấu
thứ tự Vị trí ngôi
nhà, cửa chánh, miệng bếp
lò, cửa phòng ngủ nếu
ngó về hướng này
là gia đạo bất hòa,
vợ chồng con cái phân ly,
hiếm muộn con cái, hay mất
của, mất trộm, công danh hay
gặp tai họa. Nhưng nếu
tại vị trí này trong nhà
nếu dùng để đặt
bếp lò, nhà kho, nhà vệ sinh
thì các sự kiện xấu
trên sẽ được giải
trừ.
5. Những Tuổi Hợp cho Công
Việc
Trong cuộc sống sự thịnh
suy của công danh, sự nghiệp
và tiền bạc không chỉ
tự mình đương số
làm nên mà còn tùy
thuộc vào tư cách, tài
năng, tinh thần hợp tác, sự
phù trợ, sự trung thực, trung
thành của những người
hợp tác, bạn bè, sự
xử dụng nguồn nhân lực
trong nhà cũng như trong xã
hộị Tục ngữ Việt Nam
có câu: "Giàu vì bạn"
đủ cho thấy cung Nô Bộc
ảnh hưởng mạnh
đến sự thịnh
vượng hay không về danh
vọng, quyền lực và tiền
bạc đối với sự
nghiệp của đương
số. Do đó, các nhà
nghiên cứu khoa Tử Vi
thường đánh giá cung
Nô Bộc là cung Quan Lộc thứ
haị Cho nên cung Nô Bộc còn
là cung biểu trưng cho tư
cách và vị trí của
đương số đối
với xã hội cùng nề
nếp, gia phong của đương
số như thế nào trong nội
bộ gia đình.
Đứng ở
phần căn bản cung Nô Bộc
của đương số có
hai sao Văn Xương và Văn
Khúc đứng giáp hai bên cho
thấy ngay từ thời niên
thiếu và cho đến lúc
trưởng thành, đương
số có nhiều bạn bè,
là người của đoàn
thể, tổ chức và
được
quý trọng do có sự nổi
bật về tài năng, năng
khiếu bẩm sinh hoặc do di truyền
tài năng, tính chất tốt
của cha mẹ khi vào học
đường, công sở hay do tham
gia vào các công tác xã
hộ.i, hội đoàn, hội
thiện nguyện, hội ái hữu,
hội đồng hương.
Kế tiếp, do vị
trí cung Nô Bộc đứng
thế nhị hợp với cung Quan
Lộc, nên tương quan giữa
công danh sự nghiệp của
đương số sẽ bị
tính chất của các sao trong cung
Nô Bộc ảnh hưởng
mạnh.
Cung Nô Bộc
có các sao Thái Dương,
Thái Âm, Thiên Hình,
Địa Không, Quả Tú, Linh
Tinh, Tướng Quân là nhóm sao
không được tốt cho
lắm. Trong khi đó cung Quan Lộc
là cung có nhiều sao tốt.
Nên trong quan hệ giữa mình
và mọi người dù ở
phương diện nào bản
thân đương số
thường có sự nổi
bật hay có uy quyền trong
đám đông, nhưng trái
lại đương số sẽ
ít gặp người có
đủ tài năng hơn
mình để phù trợ cho
mình. Đôi khi trong nhóm, tổ
chức, người dưới
quyền hay lấn át
đương số do ganh tỵ, tham
vọng muốn nổi tiếng, trục
lợị đương số
khó có thể hợp tác, giao
nhiệm vụ đứng
đại diện cho đương
số với ai lâu dài mà
không có rủi ro, khó giao
việc hay trách nhiệm cho
người khác một cách
trọn vẹn mà
đương số lúc
nào cũng phải thận trọng
và có sự kiểm tra liên
tục. Dù có gặp
người tốt lành về
bản tính thì đôi khi do
sự tính toán
Sau
đây là các tuổi
hạp với bạn có thể
đem lại sự tốt
đẹp trong hùn hạp, hợp
tác, làm đại diện,
ủy quyền, thâu nhận nhân
viên, người mai mối hay trong
mọi phương diện tạo
được tiền bạc sung
túc, ít có sự thất
thoát, tránh được
nhiều mâu thuẫn, tranh chấp
và lừa dối:
-
Tân Dậu (sinh năm 1981)
-
Bính Dần (sinh năm 1986)
-
Mậu Ngọ (sinh năm 1978)
-
Đinh Tỵ (sinh năm 1977)
-
Quý Hợi (sinh năm 1983)
-
Kỷ Mão (sinh năm 1999)
6. Những Tuổi Không Hợp cho Công
Việc
Tuy cung Quan Lộc của
đương số là cung
tốt đem lại nhiều sự
thành công trong cuộc sống,
nhưng với những tính chất
của cung Nô Bộc ít đem
lại sự thuận lợi cho
đương số trong sự
phù trợ về công việc,
tiền bạc lâu dài,
đương số cần tránh
các tuổi sau đây trong các
việc có liên quan đến
tiền bạc, đảm nhiệm
chức vụ, giao phó công việc
quan trọng, có thể gây ra cho
đương số phần nào
thiệt hại về tài sản, uy
tín:
- Nhâm Tuất
(sinh năm 1982)
- Giáp Dần (sinh
năm 1974)
- Canh Thân (sinh năm
1980)
- Ất Mão (sinh năm 1975)
- Bính Thìn (sinh năm 1976)
7. Tình Duyên Và
Hôn Nhân
Hạnh phúc con người
được quyết định
không chỉ ở công danh,
quyền lực, tiền bạc, của
cải vật chất, tiếng tăm
cùng danh vọng, mà một phần
lớn bởi cuộc sống hôn
nhân. Do đó cung Phu Thê
được người xưa xem
trọng, coi như một cường
cung ngang hàng với các cung khác
như cung Mệnh, cung Quan Lộc, cung Tài
Bạch, cung Phúc Đức.
Cung Phu Thê của
đương số có sao
Thất Sát cực tốt và
hợp với mạng Hỏa của
đương số, nên
người hôn phối là
người có danh giá,
đảm đang, con trưởng,
có tàị Đây là sao
chủ về oai vũ, uy quyền, đi
tiên phong, ưa hoạt động,
phối hợp với các sao Kình
Dương, Quan Phù, Quan Phủ
đồng cung, cùng với bộ sao
Văn Xương, Văn Khúc,
Ân Quang, Thiên Quý, Tấu Thư,
Hóa Khoa ở hai cung Quan Lộc và
Thiên Di chiếu về. Do đó
người hôn phối là
người có thực tài,
lý luận uyên bác, có
cơ mưu, có tài lãnh
đạo và biết quyền
biến, nhiếp phục
được người khác
kể cả cường đồ
hay tiểu nhân, có tính
cương quyết, dám nói
dám làm và nóng nảy
ngầm, cương nghị, có danh
chức lớn trong xã hội và
mọi nguời đều phải uy
khiếp, phục tòng.
Có thể nói
đường hôn nhân của
đương số gặp
người tài năng, có
địa vị trong xã hội,
nhưng điều cần lưu
ý ở đây là bản
thân cung Mệnh của
đương số có sao
Liêm Trinh, Hóa Kỵ, Đẩu
Quân cũng là loại sao thẳng
thắn, có ý chí, không
chấp nhận hoàn cảnh hiện
có, ít chịu sự áp
đặt của người
khác. Cho nên trong cuộc sống chung
dễ có sự xung khắc về
ý tưởng, quan niệm sống,
khắc khẩu, bất hòa.
Người hôn phối là
một nửa cuộc sống của
người kia, cho nên
đương số cần phải
khéo léo sao cho dung hòa và
nhường nhịn nhau thì cuộc
sống lứa đôi mới
lâu dài và êm đẹp
được.
8. Những Tuổi Hợp Cho Hôn Nhân
Việc xây dựng hạnh
phúc gia đình trong hôn nhân,
bạn cũng cần nên tìm cho
mình những tuổi hợp; Những
tuổi có thể làm cho gia
đình êm ấm, hạnh
phúc vui tươi, cơ nghiệp
được phát triển
mạnh mẽ, và nhất là
tránh được những
bất hòa đã có sẵn
do các sao trong cung Mệnh của
đương số và cung Phu
Thê đã nói ở trên.
Đó là các tuổi:
- Mậu Ngọ (sinh năm
1978)
- Bính Dần (sinh năm 1986)
- Đinh Tỵ (sinh năm 1977)
9. Những Tuổi Kỵ Cho Hôn
Nhân
Ngoài việc chọn các
tuổi hợp về hôn nhân,
đương số cũng cần
lưu ý các tuổi khắc
kỵ sau đây để
tránh những chuyện buồn
thương về tình cảm,
tình duyên khi mới quen nhau hay
định cuộc hôn nhân:
- Canh Thân (sinh năm 1980)
- Nhâm Tuất (sinh năm 1982)
- Ất Sửu (sinh năm 1985)
10. Tử Tức & Thân Thuộc
Trong lá số cung Tử Tức
là cung nói về con cái như
thế nào về sức khỏe,
bổn mạng, tính tình, sự
nghiệp công danh, tài lộc
của chúng, mối tương quan
giữa con cái và cha mẹ như
thế nàọ Ngoài ra trong thực
tế, cung Tử Tức còn ám
chỉ gián tiếp nhiều loại
người có liên quan mật
thiết đến đời
sống qua sự bảo trợ, nuôi
nấng, giúp đỡ hay chăm
sóc của đương số
trong nhà hay ở ngoài xã
hộị Các giới này
có thể là người
già lão, cô nhi, quả phụ,
cơ quan thiện nguyện, từ
thiện, hội ái hữu, học
trò.
Cần lưu
ý con cái nguyên thủy là do
cha và mẹ tạo thành, nên
chỉ có thể dự
đoán một cách tương
đối nếu chỉ căn
cứ vào một lá số
của một ngườị
Nói chung cung này khả dĩ
biểu trưng cho con cái đối
với đương số như
thế nào cùng trách nhiệm
và bổn phận của
đương số đối
với chúng ra sao mà thôị
Cung Tử Tức của
đương số trước
hết có các sao Cô Thần,
Lộc Tồn, cung Mệnh của
đương số có sao Hóa
Kỵ, Đẩu Quân đều
chỉ sự hiếm con, ít con. Trong khi
đó cung Tử Tức lại
có thêm các sao Thiên Riêu,
Triệt đều chỉ sự
đông con, nên đương
số có thể được
hai con.
Khi đương
số sinh đứa con đầu
lòng thì khó nuôi con hoặc
sinh con phải có sự trợ
giúp của khoa học kỹ thuật
khoa sản phụ. Con cái đối
với đương số
thường sống xa cách, mỗi
người một nơi, công danh
sự nghiệp chỉ ở mức trung
bình, khó nhờ được
con. Sự khó nhờ này không
phải do tiền bạc, của cải
vật chất của con cái ít
ỏi, mà do tính tình của
đương số và con cái
khác nhau, có sự xung khắc.
Sức khỏe con cái cũng không
được tốt.
Do có sao Thiên
Lương và hai sao Thiên Khôi,
Thiên Việt ở cung Phụ Mẫu,
Điền Trạch chiếu về,
nên dù tính tình con cái
có phong lưu mã thượng
đến mấy cũng giữ
được chút nề nếp
và tư cách tốt
đẹp, có nhân tính,
dù dôi khi cũng có lúc
bốc đồng làm
liềụ
Cũng
với nhóm sao này, ngoài con
cái đương số còn
có trách nhiệm hay tự
nguyện chăm sóc, bảo bọc
cho song thân, người cô
độc, tật nguyền trong gia
tộc, các người có
hoàn cảnh neo đơn, khó
khăn về kinh tế qua sự tham gia hay
đóng góp vào các cơ
quan từ thiện, hội ái hữu,
các tổ chức phi lợi nhuận.
Nếu đương số thực
hiện tốt được
điều này thì những
điều không thuận lợi
về sức khỏe, công danh con
cái sẽ được cải
thiện khá nhiều, và
đương
số cũng nên hướng
dẫn con cái vào các công
việc mang lại nhiều lợi
ích mọi mặt cho chính bản
thân con cáị.
11. Những Năm Nên Sinh Con
Có thể nói cung
Tử tức của đương
số không được tốt
cho lắm, cho nên đương
số cần lưu ý các
năm tốt sau đây để
sinh con, có thể hóa giải
phần nào về những khó
khăn nói trên:
- 26
tuổi (năm Tân Mão 2011)
- 33 tuổi (năm Mậu Tuất 2018)
- 34 tuổi (năm Kỷ Hợi
2019)
- 36 tuổi (năm Tân
Sửu 2021)
- 40 tuổi (năm
Ất Tỵ 2025)
12. Những Năm Không Nên Sinh Con
Sau đây là những
năm không nên sinh con vì rất
dễ gặp phải cảnh sinh con
khó nuôi, dễ đau ốm, cha
mẹ bị tán tài, hoặc gia
đạo có sự bất
hòa:
- 27 tuổi (năm
Nhâm Thìn 2012)
- 28 tuổi
(năm Quý Tỵ 2013)
- 30
tuổi (năm Ất Mùi 2015)
-
31 tuổi (năm Bính Thân 2016)
- 37 tuổi (năm Nhâm Dần
2022)
- 38 tuổi (năm Quý
Mão 2023)
13. Tai Nạn Và Bệnh Tật Trong Cuộc Đời
Cung Tật Ách là cung
biểu tượng cho những tai
nạn hay bệnh tật xảy ra trong
cuộc đời của
đương số. Chúng bao
gồm những tai ách, bệnh
tật, biến cố xảy ra cho cơ
thể, sinh mạng, nghề nghiệp,
tài sản, gia đạo.
Ngoài ra do cung này luôn
tương hợp với cung
Điền Trạch là cung phúc
đức thứ hai, nên cung Tật
Ách còn biểu tượng cho
hình ảnh, hoàn cảnh của
đương số lúc tuổi
già cùng nói lên đám
tang của chính mình ra sao do
phước đức của
chính hành động tạo
nghiệp của đương
số trong suốt quá trình sinh
sống.
Cung Tật Ách
của đương số có
các sao Cự Môn, Thiên Cơ,
Hóa Quyền, Đào Hoa, Bát
Tọa, Thanh Long, Thiên Không, Hỏa Tinh
miếu địa, đều là
sao tốt, nên trong cuộc đời
tai họa về công danh, tài
lộc không có sự thiệt
hại nặng.
Với
các sao Lưu Hà, Phá Toái,
Địa Kiếp, Hóa Lộc
ở các cung Huynh Đệ, Phụ
Mẫu, Điền Trạch chiếu
về, đương số trong
đời sẽ có sự bộc
phát công danh, tiếng tăm trong
đoàn thể, được
tưởng thưởng, lộc
bất ngờ tuy là chỉ là
ngắn ngủi và lợi ích
vật chất không nhiều.
Điều quan trọng là
đương
số không nên lấy
điều này làm sự
tự mãn, kiêu ngạo, sẽ
bị nhiều đố kỵ, ghen
ghét từ tha nhân do cung Mệnh
có sao Hóa Kỵ. Cũng với
nhóm sao này đương
số gặp thời xấu phải
chịu trách nhiệm bồi
thường cho người khác do
tính toán sai lầm của chính
mình qua pháp luật, khế
ước, nhưng mức độ
bồi thường không nặng,
chỉ e sợ có tai tiếng thị
phi, và
đương số hay có
sự dằn vặt với chính
mình.
Về bệnh
tật, với các sao trong cung Tật
Ách nêu trên đều
chủ về bệnh tâm khí,
thần kinh, bệnh ở phần hạ
bộ, bệnh về hệ thống
tuần hoàn. Tuy các sao Hóa
Quyền, Hỏa Tinh có nghĩa là
máu huyết, thần kinh nhưng
đều là các tốt nên
đương số có bệnh
tật này cũng gặp thầy hay
thuốc tốt cứu giải và
bệnh không cũng không nặng.
14. Những Diễn Tiến Trong Cuộc Ðời
Khoa Tử Vi quan niệm con
người một cách toàn
diện, bao hàm cả thể xác
lẫn tinh thần, cả di truyền
lẫn bản tính cá nhân,
cả môi trường gia
đình lẫn môi
trường xã hội, cả
công danh lẫn tài lộc. Sự
tác động qua lại của
các yếu tố trên trình
bày những diễn tiến thăng
hay trầm trong cuộc đời
của đương số
được khoa Tử Vi biểu
tượng từng thời hạn 10
năm tương ứng với
mỗi cung, được gọi
là các Đại Hạn như
sau:
14.1. Đại hạn ở cung Huynh
Đệ tại Mùi: Từ 16
tuổi đến 25 tuổi
Trong thời vận này,
cung Huynh Đệ là cung Vô
Chính Diệu giáp các sao Tả
Phù, Hữu Bật, Long Trì,
Phượng Các, Thiên Mã,
Kình Dương, Hóa Kỵ,
có các sao Hóa Lộc, Hóa
Quyền, Đào Hoa, Linh Tinh, Hỏa Tinh,
cùng hai sao Thái Âm, Thái
Dương đồng cung chiếu
về là hạn tương
đối tốt. Đường
học vấn, công danh của
đương số có sự
thuận lợi nhưng không nên
có sự ỷ lại, tự
mãn. Nguyên nhân do có các sao
hung Thiên Hình, Địa Không,
Tướng Quân ở cung Thiên Di
chiếu đưa đến có
sự trắc trở trong việc thi
cử, tốt nghiệp hay thiếu
một vài điều kiện
về điểm chọn
trường đại học.
Nhưng nói chung đường
công danh, học vấn cũng có
sự thành công, có chút
tiếng tăm và tài lộc trung
bình. Đương số nên tận dụng những tài năng, năng khiếu riêng tư đặc biệt của mình về nghệ thuật để thu phục nhân tâm và là lợi điểm trong quan trường.
Thứ hai, trong hạn này
có các sao Đào Hoa, Hồng Loan
ngoài tính chất đem lại cho
đương số sự may
mắn, tài hoa trong khả năng,
năng khiếu, công danh, còn
chủ về tình cảm, tình
duyên. Nên đương số
không nên đặt nặng
chuyện tình cảm, kết bạn
với người khác phái so
với đường công danh
sự nghiệp của mình. Sự
nghiệp là chính, tình cảm,
duyên tình là phụ.
Đối với
những người thân tộc
của đương số, trong
hạn này cũng do có các sao
Đào Hoa, Hồng Loan tác dụng
không tốt đến sức
khỏe, bổn mạng của
người cao tuổi phái nữ.
Nên trong hạn này còn là
hạn có bệnh tật, tai nạn,
tang ma của người thân phái
nữ cao tuổi.
14.2.
Đại hạn ở cung Phu Thê
tại Ngọ: Từ 26 tuổi
đến 35 tuổi
Hạn đến cung Phu
Thê có các sao Thất Sát,
Kình Dương, Quan Phù, Quan
Phủ, Thái Tuế, thêm các sao
Văn Xương, Văn Khúc,
Ân Quang, Thiên Quý, Tấu Thư,
Hóa Khoa chiếu về là hạn
tốt, thành công. Mọi mưu
cầu về công danh, sự
nghiệp, tình cảm, tiền tài
đều thành tựu nhanh chóng.
Đây là hạn khởi
đầu cơ nghiệp, hạn
của hành động dấn
thân và kết quả
đạt được về
quyền lực, uy tín, tiền
bạc, danh dự ở giai đoạn
này là nền tảng cùng kinh
nghiệm cho các thòi vận sau
này.
Nếu có
sự tranh chấp hay có các
việc liên quan đến pháp
luật, kiện tụng đều
có thể thành công. Tiếng
tăm của đương số
cũng bắt đầu từ
đây. Sự nghiệp nào
cũng phải có vây cánh,
bạn bè, phụ tá. Giai
đoạn này đương
số sẽ có nhiều
người tài giỏi và
đắc lực
hỗ trợ cho đương
số. Tuy nhiên việc gì cũng
có mặt trái của nó. Do cung
Mệnh của đương số
có sao Hóa Kỵ là sao chủ
sự ganh tỵ, ghen ghét, đố
kỵ, thị phi, tai tiếng. Nên tuy sao
này có làm cho đương
số thành danh, nổi tiếng,
nhưng ở hạn này với
các bộ sao mạnh mẽ của
cách Sát Phá Tham sẽ gây ra
ít nhiều sự phiền lòng do
sự lấn át quyền lực
của đồng sự,
người hợp tác,
người dưới quyền
muốn tranh thắng với
đương số.
Cho nên mọi giao
dịch, hứa hẹn, hợp
đồng, khế ước,
hùn hạp đều phải
rõ ràng chính xác về
quyền lợi và nghĩa vụ
để tránh sự tranh chấp hay
lật lọng sau này.
Đương số cũng cần
thận trọng trong việc chọn
bạn, người hợp tác,
vì sẽ có những
người tuy có tài năng
nhưng họ đến với
đương số chỉ
để trục lợi hay chỉ
nương tựa nơi
đương số một giai
đoạn nào đó.
Về phần của
đương số, cũng
không nên có sự cứng
rắn quá đáng hay có
sự tự phụ dù cố
ý hay vô tình chỉ gây
thêm lòng đố kỵ
của những người có
liên quan mật thiết với
mình trong công việc. Sự báo
thù hay trả đũa của
họ rất dễ xảy ra, tuy
không gây cho đương
số những thiệt hại lớn
nhưng sẽ làm giảm uy tín
của mình trong cộng đồng,
xã hội hay đương
số phải nhọc công
đối phó, và một
phần nào bị giảm về
sự hậu thuẫn. Trong hạn
này, đương số cũng
đề phòng các tai nạn,
bệnh tật như đã
nói ở trên và các
việc liên quan đến di
chuyển, sử dụng xe cộ.
14.3. Đại hạn
ở cung Tử Tức tại Tỵ:
Từ 36 tuổi đến 45 tuổi
Hạn ứng vào cung
Tử Tức có các sao Thiên
Lương, Thiếu Âm, Lộc
Tồn, Thiên Riêu, Cô Thần
với sao Triệt án ngữ, có
thêm các sao Địa Không,
Địa Kiếp, Thiên Hình,
Phá Toái, Bệnh Phù, Hóa
Lộc, Thiên Khôi, Thiên Việt
chiếu về.
Có
thể nói thời vận ở
hạn này được cách
song Lộc là cách tốt, hưng
vượng tiền bạc, của
cải vật chất, nhưng vì
có nhiều sao hung xâm phạm
nên cần lưu ý các
điểm cốt yếu như sau:
Thời vận của
đương số ở giai
đoạn này, mọi việc
về công danh, nghề nghiệp,
kế sách làm ăn, thời
cuộc đều thay đổi
toàn diện, không giống như
thời vận của 10 năm
trước. Với cách song Lộc
gồm Lộc Tồn, và sao Hóa
Lộc ở cung Điền Trạch
chiếu về, đủ bảo
đảm cho đương số
về sự nghiệp, tiền tài
bất luận tình thế xảy ra
như thế nào vẫn
để cơ nghiệp của
đương số có cơ
hội tồn tại. Tuy nhiên sự
may rủi thành bại bao giờ
cũng đi liền nhau, và có
lúc đương số bị
đứng trong thế bị
động hay công danh bị gián
đoạn trong thời gian ngắn.
Đây là hạn mọi
việc đương số
không thể tiến nhanh, không
nên ngồi tại chỗ mà
phải bôn ba để không
nương tựa vào một
nơi nào, một nhóm
người nào, phải tìm
kiếm nhiều nhóm, nhiều nơi
khác nhau để dự phòng.
Đặc điểm
của thời vận này là
đương
số một khi muốn tiến hành
một công việc gì
đều phải tính toán
thận trọng, vì sau đó
tình hình thực tế và
sự kết thúc sẽ không bao
giờ đúng như sự
tính toán của đương
số. Nói chung là
đương số ở
vào thời vận đem lại
những công việ không
tương xứng với mình,
tức tài năng thì có
nhưng thời vận thì yếu
nhược. Cho nên đôi khi
đương số phải làm
những công việc có tính
tạm thời, bất đắc
dĩ.
Đặc
điểm kế tiếp là
về vấn đề nhân
sự. Mọi sự quen biết, giao
dịch với tha nhân hay tìm
người giúp việc cho mình
đều gặp những
người yếu về khả
năng, tính toán vụn vặt
và hay có tính muốn bỏ
đi, lui tới thất thường,
bội tín khi đương
số gặp trở ngại. Cho nên
đương số phải
nhọc công thêm khi giải
quyết các việc vì không
thể tin cẩn được
họ.
14.4. Đại
Hạn ở cung Tài Bạch tại
Thìn: Từ 46 tuổi đến 55
tuổi
Hạn ứng
vào cung Tài Bạch có các sao
Tử Vi, Thiên Tướng, Tang
Môn, Thiên Khốc, Đà La
với sao Triệt án ngữ.
Vào hạn này
đường công danh sự
nghiệp của đương
số lại có sự thay
đổi hoàn toàn đi
vào một đường
hướng khác, nói chung là
hạn tương đối tốt
đẹp. Mọi sự biến
chuyển hay thay đổi đều
có sự khởi đầu
chậm chạp nhưng
đương số không nên
lấy đó làm buồn
phiền vì tuy chậm chạp
nhưng chắc chắn, trước
khó sau dễ dàng.
Đặc điểm
của hạn này nếu có
rủi ro hay trở ngại nào
đến cũng nhẹ nhàng,
dễ dàng vượt qua và sau
đó lại có sự thăng
tiến về công danh, sự
nghiệp và mở ra nhiều cơ
hội tham gia trong nhiều lĩnh vực
khác đem lại tài lộc
và danh vọng của
đương số.
Do cung Mệnh có sao
Hóa Kỵ, đương số
dù làm gì thành hay bại, danh
tiếng là
điều quan trọng cho
tương lai kế tiếp. Sẽ
có những tranh chấp, kiện
cáo, đố kỵ, thị phi
của người khác
đối với đương
số, cho nên đương
số cần thận trọng trong
mọi cuộc giao tiếp về ngôn
ngữ cũng như mọi giao
ước, giấy tờ cho thật
kỹ càng để tránh
những sự thiệt hại không
đáng có dù là vật
chất hay tinh thần danh dự.
Nếu đương
số làm duới quyền ai, dù
họ có tốt và thật
lòng yêu mến và giúp
đỡ, đương số
cũng không nên nương
tựa tuyệt đối mà
hãy tự lo cho mình những con
đường khác. Vì sự
thất bại, tai nạn hay rủi ro
của họ sẽ ảnh
hưởng đến công danh,
việc làm của đương
số như nghề nghiệp bị
gián đoạn, sút giảm
về hậu thuẫn đưa
đến phần nào
đương số bị cô
lập hay khó xoay trở.
14.5. Đại Hạn
ở cung Tật Ách tại Mão:
Từ 56 tuổi đến 65 tuổi
Hạn ứng vào cung
Tật Ách có các sao Cự
Môn, Thiên Cơ, Thiên Không,
Hỏa Tinh, Đào Hoa, Hóa
Quyền, cùng với các sao
Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa
Lộc, Lưu Hà, Phá Toái,
Bệnh Phù, Phục Binh, Địa
Kiếp ở các cung Huynh Đệ,
Phụ Mẫu, Điền Trạch
chiếu về.
Vào
hạn này đương số
mưu sự việc gì cũng
thành công một cách nhanh
chóng, gia đạo có hỷ
sự, tiền tài sung túc, có
danh chức và tiếng tăm, nói
được nhiều người
nghe theọ Nếu có sự tranh
chấp hay kiện cáo với
người khác cũng thắng
lợi.
Đặc
điểm ở hạn này
đương số có lộc
bất ngờ từ sự bồi
thường thiệt hại do
người khác hay do tai nạn,
thiên tai, hoặc do chính sách
của chính phủ hoạch
định có lợi cho xã
hội gây thiệt hại cho tài
sản, vật chất của
đương số.
Tuy là hạn tốt
nhưng ở cung này có sao Thiên
Không, Hỏa Tinh, Phục Binh,
Địa Kiếp, cung Mệnh có sao
Hóa Kỵ, đương số
cần giữ sức khỏe cho tốt
và nên cư trú những
vùng có khí hậu ôn
hòa, ít thiên tai mới thuận
lợi cho sức khỏe bản thân.
Còn về công danh sự nghiệp
đương số cũng có
những thắng lợi nhất
định, nhưng phải biết
dừng đúng lúc. Vì
các sao trên đều chỉ
sự rủi ro, hư hại, mất
của, tai nạn, bệnh tật hay
công danh, sự nghiệp, tình
cảm của con cái gây nhiều
lo lắng cho mình.
14.6.
Đại Hạn ở cung Thiên Di
tại Dần: Từ 66 tuổi
đến 75 tuổi
Hạn ứng vào cung
Thiên Di tại Dần có sao Tham Lang,
Thái Tuế, hai sao Linh Tinh, Hỏa Tinh
giáp hai bên.
Do có
bộ sao Linh Hỏa giáp ảnh
hưởng phần lớn
đến sức khỏe của
đương số và
đây cũng
là hạn cuối đời của
đương số, nên
đây là kết quả
của hạn trước. Cho nên
ở hạn trước dù
đương
số làm gì bao giờ cũng
lấy sức khỏe bản thân
và hòa khí trong nhà làm
chính, vì các sao trên dễ
khiến cho đương số
bệnh ở chân tay đi
đứng khó khăn. Không
nên xem trọng về tiền tài
vật chất, chuyện hơn thua
với người đời
chỉ thêm vất vả. Mọi
tính toán làm ăn ở giai
đoạn này dù có
thành cũng dễ bị gãy ngang
và không thể một sớm
một chiều kết thúc cho êm
đẹp được.
15. Lời Cuối
Trong cuộc đời dù bất
cứ ai, cũng có lúc thành
công và cũng có khi thất
bạị Đối với vận
số trọn đời của
đương số,
đường công danh sự
nghiệp thành nhiều bại ít.
Thành công ở chỗ có danh
chức, tiền bạc, danh vọng,
nổi tiếng, người cao quý
được sự nể trọng
của tha nhân và xã hội.
Thất bại ở chỗ
đương số vì quá
nghiêm khắc, cứng rắn,
không tha thứ, bao dung sự sai quấy
của người khác mà
lại lên án họ, thì
sự hiềm khích, thị phi,
đố kỵ phải xảy ra
đưa đương số
thêm thù bớt bạn, làm
giảm hậu thuẫn cho
đương số. Sự
kiện này cũng ảnh
hưởng phần nào không
tốt đến hòa khí trong gia
đạo giữa đương
số với chồng, con cái và
thân thuộc.
Con
người dù bất cứ ai
đôi khi cũng nên biết
thông cảm với người
khác. Nói như thế không
có nghĩa đương số
bỏ qua những sai phạm của
họ, mà nên biết nhu nhuyễn
và cho họ một cơ hội
để sửa chữa, sau mới
dùng biện pháp cứng rắn.
Cuộc đời
của đương số bao
giờ cũng hay lo lắng, suy nghĩ,
tâm trí ít được
nghỉ ngơi, thường phải
đi nhiều nơi đến
nhiều chỗ gánh vác lấy
công việc lo cho bản thân, gia
đình cùng xã hộị
Cho nên tự đương
số nên tạo một cơ
hội lo về sức khỏe của
chính mình qua giải trí, du
lịch. Danh tiếng hay giàu sang quá
đôi khi cũng là một
gánh nặng vì phải lo toan
bảo toàn. Nếu trong đời
đương số có gặp
khó khăn, thất bại, tai
tiếng thì cũng không nên
lấy đó làm buồn
phiền. Điều quan trọng là
đương
số nên cố gắng ẩn
nhẫn và chịu đựng qua
những lúc khó khăn của
cuộc đời.
Nên biết rằng,
đã vào đời thì
bất cứ ai cũng phải có
những lúc vui vẻ và những
lúc buồn rầụ Tuy nhiên
đương số không nên
để cho buồn rầu hay thất
bại khiến mình trở nên
càng đau khổ hơn. Con
người dù bất cứ ai
cũng cần phải trải qua
những đau khổ hay thất bại
mới có thể trưởng
thành và thông cảm cho
người khác. Nếu
đương số hiểu
được và sống
được với điều
này thì thất bại chính
là mẹ thành công.
đương số cũng nên
biết rằng số phận là do
chính mình đã tạo cho
cuộc sống hiện tại và
đang chuẩn
bị cho kiếp sống tương lai. Đó là ý nghĩa câu
Đức Năng Thắng Số.
Chúc đương
số luôn có được
cuộc sống tốt đẹp
và thăng tiến để
cống hiến cho cuộc đời
dù trong hoàn cảnh thành công
hay thất bại.
![]()
Trở Về Trang Đầu Tiên