Giải Đoán Tử Vi Trọn Đời

Kimberly Mai Nguyễn

21:12 10/06/1986

Monterey Park, California, USA
34N04, 118W07

Bính Dần, Tháng 5, Ngày 4, Giờ Tuất
Mệnh Lô Trung Hỏa
Dương Nữ






1. Tổng Quát Cuộc Đời

Đương số là nữ tuổi Bính Dần, mạng Lô Trung Hỏa, cung Mệnh có các sao quan trọng như Liêm Trinh, Tuế Phá, Hóa Kỵ, Thiên Mã, Đại Hao, Đẩu Quân, Tả Phù, Phượng Các, cùng với các bộ sao Văn Xương, Văn Khúc, Ân Quang, Thiên Quý, Thai Phụ, Phong Cáo, Hóa Khoa ở các cung Tài Bạch, Thiên Di, Quan Lộc chiếu về, tức thuộc cách Tử Phủ Vũ Tướng. Đương số thuộc cách này với sao chính là Liêm Trinh tọa thủ, nên là người nghiêm nghị, can đảm, đoan chính, thanh cao, đảm đang, đôi khi có sự nóng nảy, cứng cỏi hay khắc nghiệt, nhưng là người có tài, có hạnh, có nhiều năng khiếu bẩm sinh về thủ công, nghệ thuật, có danh tiếng và khá giả.

Tuy nhiên, do có sao Hóa Kỵ đóng trong cung Mệnh và cung Thiên Di có các sao Tham Lang, Thái Tuế, Văn Khúc, Tiểu Hao giáp hai sao Linh Tinh, Hỏa Tinh, là dấu vết di truyền của họ ngoại có người chết bất đắc kỳ tử hay đau yếu tật nguyền vĩnh viễn. Nên đương số ra ngoài là người có tài thi thố khắp nơi, thường phiêu bạt, không chấp nhận sự áp đặt, muốn sửa đổi hoàn cảnh, thời thế, có sức thuyết phục người khác, hay có năng khiếu về hùng biện, diễn thuyết và nổi tiếng. Nhưng cũng chính các sao này khiến cho cuộc đời của đương số hay bị sự đố kỵ, ghen ghét, hiềm khích, khiến công danh, danh vọng đôi khi có sự trắc trở, gián đoạn, buồn phiền, bị tai nạn về danh tiếng, pháp luật.

Do có hai sao Lưu Hà, Phá Toái giáp hai bên cung Mệnh, nên nếu đương số có bị những rủi ro nêu trên dù là vật chất hay tinh thần, trong đời sẽ có mối lợi lớn về tiền hay danh dự do được bồi thường, tức trong cái rủi có cái may. Nếu không như vậy thì đương số trong đời sau này có được sự giúp đỡ hay có nguồn bảo trợ của tha nhân hay tổ chức xã hội, đoàn thể về tiền tài, vật chất để đương số thực hiện những ước mơ của mình nhưng phải đem lại lợi lộc cho tập thể, cộng đồng.



2. Công Danh & Nghề Nghiệp


Cung Quan Lộc trong lá số của đương số là cung chủ về công danh, nghề nghiệp, sự nghiệp như thế nào, trắc trở hay hanh thông, sớm thành danh hay chậm trễ, có hay bị gián đoạn hoặc phải thay đổi nghề hay không.

Với các sao chính tinh Vũ Khúc, Thiên Phủ là các loại sao tốt nên đường công danh sự nghiệp của đương số sẽ thành đạt, có uy quyền, chức vụ quan trọng trong xã hội. Nhóm sao này lại có thêm các sao tốt như Hóa Khoa, Văn Xương, Tấu Thư, Phong Cáo, Thiên Quý, Thiên Phúc chủ về khoa bảng, học vấn, thông minh, hiếu học, hay tìm tòi, hiếu kỳ, dễ đỗ đạt, nghiên cứu, hạnh kiểm tốt, vừa có học lại có hạnh, vừa có tài vừa có đức; Cho nên sẽ là người có văn tài, vừa có danh chức lại vừa có danh thơm tiếng tốt.

Tuy nhiên, cung Quan Lộc này có cung Nô Bộc đứng thế nhị hợp với các sao hung như Thiên Hình, Địa Không, Linh Tinh, Quả Tú, Trực Phù cùng với sao Tướng Quân và cặp sao Thái Âm, Thái Dương mờ nhạt, nên sự tốt đẹp của đường công danh sự nghiệp của đương số bị giảm đi một phần nào. Nguyên do là sự tập hợp các sao vừa nêu biểu tượng cho bổn mạng không có người phò tá, bạn bè tốt đẹp, thiếu sự trung thành, kém về tài năng, hay nổi loạn, không cùng chí hướng làm cho đường công danh phải gặp một thời lận đận, bị gián đoạn, làm ơn mắc oán, thị phi, khó làm việc chung với ai lâu dài, hoặc do tính toán sai lầm hay tai nạn của họ khiến đương số bị vạ lây. Do đó trên đường làm ăn, đương số cần phải thận trọng khi muốn có sự hợp tác, hùn hạp, kết bạn dù là để giao thiệp bình thường cũng vậy. Điều này rất dễ xảy ra vì ngay trong cung Mệnh của đương số đã có sẵn sao Hóa Kỵ là sao chủ sự khắc khẩu, thị phi, và ghen tỵ, mất mát về thế lực, sa sút về hậu thuẫn.

Đứng ở phần tính chất căn bản của bộ sao trên, đường công danh của đương số thích hợp với các ngành có liên quan đến kinh tế, tài chánh, ngân hàng, nhà kế hoạch gia.

Do có sao Hóa Kỵ ở cung Mệnh, cung Thiên Di có sao Tham Lang, Thái Tuế với hai sao Linh Tinh Hỏa tinh đứng giáp hai bên, đương số còn thích hợp với các ngành nghề có liên quan đến công nghệ sinh học, hóa học.

Với cung an Thân ứng vào cung Tài Bạch có các sao Tử Vi, Thiên Tướng có sao Triệt án ngữ, công danh sự nghiệp của đương số còn có thể đắc dụng và thành đạt trong các ngành nghề cha truyền con nối. Tức trước kia song thân học và làm ngành gì thì đương số có thể thành công sự nghiệp trong những ngành nghề của họ. Hoặc đương số cũng được thừa hưởng những tay nghề khéo tay đặc sắc của song thân ích dụng trong việc giao thiệp, ngoại giao.

Cũng ứng vào bộ sao này, trong dòng đời đương số cũng nên tham gia vào các chức vụ mang tính cộng đồng, đoàn thể hội đoàn, hội đồng hương. Tuy chức vụ chỉ là hư danh nhưng cũng chính nhờ sự tham gia vô vụ lợi sẽ đem lại cho đương số nhiều cơ hội tạo dựng được uy tín, niềm kính trọng của tha nhân. Đây cũng là phương tiện giúp cho đương số gặp quý nhân, bạn bè tốt giúp đỡ cho mình những lúc đường công danh gặp trở ngại, và cũng là tạo thêm phước đức cho bản thân khi lo cho mọi người.



3. Sự Nghiệp & Tài Lộc


Cung Tài Bạch là cung chủ về tiền bạc, tượng trưng cho hạnh phúc vật chất, trong đó dự báo tiền bạc của mình hay của gia đình, cách thủ đắc tiền bạc, mức độ giàu hay nghèo, kiếm tiền khó khăn hay dễ dàng, khả năng bảo toàn tài sản, sự may rủi về tiền bạc trong suốt cuộc đời.

Có thể nói do cung an Thân là loại cung Mệnh thứ hai của đương số đóng vào, nên cung Tài Bạch là cung rất quan trọng, ảnh hưởng quyết định đối với vận mệnh ở mai hậu. Với hai sao Tử Vi và Thiên Tướng bị sao Triệt án ngữ, đương số không có phần thừa hưởng di sản của song thân hoặc được hưởng rất ít, phải tự tay tạo dựng mới có.

Thứ hai, nhóm sao này còn chủ đường tài lộc của đương số tuy cũng có tiền bạc, có của cải tích lũy, nhưng cũng phải có một thời gian gặp khó khăn, mất mát, bị giảm lương, lợi tức, làm nhiều hưởng ít, giữ của không bền vững, hoặc phải bôn ba lao lực, thua kiện. Sự kiện này rất dễ xảy ra khi thời vận của đương số ứng vào giai đoạn 10 năm từ 36 tuổi ta đến 45 tuổi.

Thứ ba, do cung Phúc Đức xung chiếu với cung Tài Bạch, nên cung này có tầm ảnh hưởng rất lớn đến sự giàu nghèo của đương số. Trong cung này có sao Phá Quân, Bạch Hổ, sao Tuần án ngữ cùng với cung Thiên Di có sao Tham Lang, Thái Tuế, giáp Linh Tinh, Hỏa Tinh tuy chủ họ hàng ly tán, trong thân tộc có người chết bất đắc kỳ tử, nhưng tính chất của nhóm sao này lại chủ về đương số được thừa hưởng tính di truyền về phát minh, sáng tạo, có tay nghề lạ lùng và độc đáo của ông bà cha mẹ. Cho nên đường tài lộc của đương số cũng được sung túc và thụ hưởng lâu dài ở cuối đời nếu chính bản thân biết khai thác tính di truyền về phát minh sáng tạo này trong ngành nghề của mình, hay phát huy được những tiềm năng bẩm sinh độc đáo của riêng mình, dù là phát minh khoa học hay các môn nghệ thuật, âm nhạc.

Có thể nói cho đến cuối đời, đường tài lộc, tiền bạc của đương số tuy không phải là giàu có lớn về tiền, nhưng cũng có sự sung túc về của cải vật chất hay nhà cửa đất đai cùng có danh tiếng trong xã hội.



4. Điền Sản & Nhà Cửa


Cung Điền Trạch trong lá số là cung chủ về các bất động sản như nhà cửa, ruộng vườn, trang trại, cơ xưởng, xí nghiệp, công ty, cửa tiệm buôn bán. Các động sản như hoa màu, sản phẩm chế biến, hàng hóa, xe cộ, phi cơ, tàu bè. Ngoài ra do vị trí của cung Điền Trạch trong lá số ứng hợp với thời vận trung niên của đời người, nên cung này còn được xem là loại cung Phúc Đức thứ hai ở hậu vận do chính mình tự thân tác nghiệp nữạ Do đó cung Điền Trạch đóng vai trò khá quan trọng quyết định về sự nghiệp vật chất cũng như tinh thần, danh tiếng, danh vọng xấu hay tốt ở cuối đời như thế nào.

Cung Điền Trạch của đương số có sao Thiên Đồng với sao Tuần án ngữ nên điền sản phải tự tay tạo dựng mới có, hay phải thay đổi nhiều lần về nơi chốn cư ngụ. Do có nhiều sao tốt như Thiên Khôi, Hóa Lộc, Tam Thai, Phi Liêm nên đương số có thể tự mình cùng với người thân hay được quý nhân giúp đỡ sớm mua sắm được nhà đất trong giai đoạn từ 26 tuổi đến 35 tuổi. Nhưng sau đó sẽ có sự hao tán tuần tự, phải mua đi bán lại nhiều lần, phải thay đổi nhiều lần về nhà đất, nơi sinh sống và làm việc nhưng khó nhọc hoặc không vừa ý, gặp rắc rối về mua bán nhà như có sự thua lỗ về làm ăn đưa đến bán gấp, khó mua hay bán nhà do thị trường địa ốc có sự thăng trầm bất định về giá cả, kể cả do tính toán sai lầm của đương số đưa đến sự thiệt hại ở giai đoạn từ 36 tuổi đến 45 tuổi.

Tuy nhiên như đã nói ở trên, cung Điền Trạch là loại cung Phúc Đức thứ hai dự báo cơ nghiệp cùng danh tiếng, địa vị của đương số ở cuối đời. Với sao Thiên Đồng là sao chủ về phái nữ hợp với phái tính của ds, cùng với sao Thiên Khôi là sao quý nhân chủ về người trưởng, con trưởng. Đương số là con trưởng nên dù có gặp phải giai đoạn không được tốt qua thời vận như đã nêu, sự hư hại này cũng không lớn lao gây khốn khó nặng cho ds, mà chỉ làm đương số mất nhiều mối lợi về điền sản hoặc danh tiếng, địa vị, chức vụ của đương số gặp ít nhiều khó khăn, gặp tiểu nhân, việc làm bị gián đoạn tạm thời, để rồi sau giai đoạn này cho đến cuối đời đương số cũng có được nhà đất khang trang cùng công danh và danh tiếng của mình cũng được mọi điều tốt đẹp.

Đương số là người nữ thuộc tuổi Bính Dần nên cung Phi Bát Trạch của đương số là cung Khảm. Do đó việc chọn hướng nhà và đặt để vị trí cho các nơi khác trong nhà theo các hướng tốt như sau:

Hướng Đông Nam (từ 112 độ 30 đến 157 độ 29 phút) là hướng Sanh Khí. Đây là hướng tốt nhất. Vị trí ngôi nhà, cửa chánh, miệng bếp lò, cửa phòng ngủ nếu ngó về hướng này là đại phát toàn diện về mọi mặt, đem lại nhiều lợi ích trong công việc, chức vụ, tiền tài, học hành, hôn nhân, sức khỏe tốt đẹp. Nhưng nếu tại vị trí này dùng để đặt bếp lò, làm nhà bếp thì mọi việc rất khó thành tựu, sự tính toán làm ăn hay bị sai lầm, tiền tài khó tụ.

Hướng Chánh Đông (từ 67 độ 30 đến 112 độ 29 phút) là hướng Thiên Ỵ Đây là hướng tốt thứ nhì. Vị trí ngôi nhà, cửa chánh, miệng bếp lò, cửa phòng ngủ nếu ngó về hướng này sẽ làm gia tăng hay thuận lợi dễ dàng cho công danh tài lộc. Con cái thành công trong đường học vấn. Gia đạo làm ăn hay giao thiệp dễ gặp quý nhân giúp đỡ, tránh được nhiều tai nạn, bệnh tật, có sức khỏe tốt. Nhưng nếu tại vị trí này dùng để đặt bếp lò, làm nhà bếp thì mọi việc rất khó khăn, sức khỏe ngày càng suy giảm, hay đau yếu.

Hướng Chánh Nam (từ 157 độ 30 đến 202 độ 29 phút) là hướng Phước Đức. Đây là hướng tốt thứ ba. Vị trí ngôi nhà, cửa chánh, miệng bếp lò, cửa phòng ngủ nếu ngó về hướng này là gia đạo yên vui và hòa thuận, sinh sống, làm ăn gặp được may mắn. Ngoài ra do tính chất tốt về tinh thần, tâm linh, nên tại hướng này nên đặt bàn làm việc, bàn học, tiếp khách, hay bố trí phòng ngủ. Nhưng nếu tại vị trí này dùng để đặt bếp lò, làm nhà bếp thì gia đạo bất hòa, hôn nhân hay gặp nhiều trở ngại.

Hướng Chánh Bắc (từ 337 độ 30 đến 22 độ 29 phút) là hướng Phục Vị. Đây là hướng tốt thứ tự Vị trí ngôi nhà, cửa chánh, miệng bếp lò, cửa phòng ngủ nếu ngó về hướng này là gia đạo có cuộc sống yên lành. Nhưng nếu tại vị trí này dùng để đặt bếp lò, làm nhà bếp thì mọi việc tiền bạc khó kiếm, hay hao tán tiền bạc.

Hướng Tây Nam (từ 202 độ 30 đến 247 độ 29 phút) là hướng Tuyệt Mạng. Đây là hướng xấu nhất. Vị trí ngôi nhà, cửa chánh, miệng bếp lò, cửa phòng ngủ nếu ngó về hướng này là cuộc sống dễ gặp nhiều tai biến, nguy nan đến thân mạng cùng tài sản, vật chất. Có sự xung đột hay mâu thuẫn trong gia đình, phân ly người thân, nay ốm mai đau, bị vu oan giá họa, dễ gặp tranh chấp, kiện tụng trong cuộc sống. Nhưng nếu tại vị trí này trong nhà nếu dùng để đặt bếp lò, làm nhà kho, nhà vệ sinh thì các sự kiện xấu trên sẽ được giải trừ.

Hướng Đông Bắc (từ 22 độ 30 đến 67 độ 29 phút) là hướng Ngũ Quỷ. Đây là hướng xấu thứ nhì. Vị trí ngôi nhà, cửa chánh, miệng bếp lò, cửa phòng ngủ nếu ngó về hướng này là cuộc sống dễ gặp nhiều ưu phiền, gia đạo bất an, con cái khó dạy bảo, không vâng lời cha mẹ, lêu lổng chơi bời, học hành khó thành đạt. Ngoài ra tiền bạc khó khăn, nếu có kiếm được cũng không cầm giữ được. Nhưng nếu tại vị trí này trong nhà nếu dùng để đặt bàn thờ thì các sự kiện xấu trên sẽ được giải trừ.

Hướng Tây Bắc (từ 292 độ 30 đến 337 độ 29 phút) là hướng Lục Sát. Đây là hướng xấu thứ bạ Vị trí ngôi nhà, cửa chánh, miệng bếp lò, cửa phòng ngủ nếu ngó về hướng này là gia đạo bất hòa, vợ chồng con cái hay bị phân ly, nghèo đói, làm ăn dễ bị lừa đảo, gặp tiểu nhân dòm ngó hay bị trộm viếng nhà. Nhưng nếu tại vị trí này trong nhà nếu dùng để đặt bếp lò, nhà kho, nhà vệ sinh thì các sự kiện xấu trên sẽ được giải trừ.

Hướng Chánh Tây (từ 247 độ 30 đến 292 độ 29 phút) là hướng Họa Hạị Đây là hướng xấu thứ tự Vị trí ngôi nhà, cửa chánh, miệng bếp lò, cửa phòng ngủ nếu ngó về hướng này là gia đạo bất hòa, vợ chồng con cái phân ly, hiếm muộn con cái, hay mất của, mất trộm, công danh hay gặp tai họa. Nhưng nếu tại vị trí này trong nhà nếu dùng để đặt bếp lò, nhà kho, nhà vệ sinh thì các sự kiện xấu trên sẽ được giải trừ.



5. Những Tuổi Hợp cho Công Việc


Trong cuộc sống sự thịnh suy của công danh, sự nghiệp và tiền bạc không chỉ tự mình đương số làm nên mà còn tùy thuộc vào tư cách, tài năng, tinh thần hợp tác, sự phù trợ, sự trung thực, trung thành của những người hợp tác, bạn bè, sự xử dụng nguồn nhân lực trong nhà cũng như trong xã hộị Tục ngữ Việt Nam có câu: "Giàu vì bạn" đủ cho thấy cung Nô Bộc ảnh hưởng mạnh đến sự thịnh vượng hay không về danh vọng, quyền lực và tiền bạc đối với sự nghiệp của đương số. Do đó, các nhà nghiên cứu khoa Tử Vi thường đánh giá cung Nô Bộc là cung Quan Lộc thứ haị Cho nên cung Nô Bộc còn là cung biểu trưng cho tư cách và vị trí của đương số đối với xã hội cùng nề nếp, gia phong của đương số như thế nào trong nội bộ gia đình.

Đứng ở phần căn bản cung Nô Bộc của đương số có hai sao Văn Xương và Văn Khúc đứng giáp hai bên cho thấy ngay từ thời niên thiếu và cho đến lúc trưởng thành, đương số có nhiều bạn bè, là người của đoàn thể, tổ chức và được quý trọng do có sự nổi bật về tài năng, năng khiếu bẩm sinh hoặc do di truyền tài năng, tính chất tốt của cha mẹ khi vào học đường, công sở hay do tham gia vào các công tác xã hộ.i, hội đoàn, hội thiện nguyện, hội ái hữu, hội đồng hương.

Kế tiếp, do vị trí cung Nô Bộc đứng thế nhị hợp với cung Quan Lộc, nên tương quan giữa công danh sự nghiệp của đương số sẽ bị tính chất của các sao trong cung Nô Bộc ảnh hưởng mạnh.

Cung Nô Bộc có các sao Thái Dương, Thái Âm, Thiên Hình, Địa Không, Quả Tú, Linh Tinh, Tướng Quân là nhóm sao không được tốt cho lắm. Trong khi đó cung Quan Lộc là cung có nhiều sao tốt. Nên trong quan hệ giữa mình và mọi người dù ở phương diện nào bản thân đương số thường có sự nổi bật hay có uy quyền trong đám đông, nhưng trái lại đương số sẽ ít gặp người có đủ tài năng hơn mình để phù trợ cho mình. Đôi khi trong nhóm, tổ chức, người dưới quyền hay lấn át đương số do ganh tỵ, tham vọng muốn nổi tiếng, trục lợị đương số khó có thể hợp tác, giao nhiệm vụ đứng đại diện cho đương số với ai lâu dài mà không có rủi ro, khó giao việc hay trách nhiệm cho người khác một cách trọn vẹn mà đương số lúc nào cũng phải thận trọng và có sự kiểm tra liên tục. Dù có gặp người tốt lành về bản tính thì đôi khi do sự tính toán
Sau đây là các tuổi hạp với bạn có thể đem lại sự tốt đẹp trong hùn hạp, hợp tác, làm đại diện, ủy quyền, thâu nhận nhân viên, người mai mối hay trong mọi phương diện tạo được tiền bạc sung túc, ít có sự thất thoát, tránh được nhiều mâu thuẫn, tranh chấp và lừa dối:

- Tân Dậu (sinh năm 1981)
- Bính Dần (sinh năm 1986)
- Mậu Ngọ (sinh năm 1978)
- Đinh Tỵ (sinh năm 1977)
- Quý Hợi (sinh năm 1983)
- Kỷ Mão (sinh năm 1999)



6. Những Tuổi Không Hợp cho Công Việc



Tuy cung Quan Lộc của đương số là cung tốt đem lại nhiều sự thành công trong cuộc sống, nhưng với những tính chất của cung Nô Bộc ít đem lại sự thuận lợi cho đương số trong sự phù trợ về công việc, tiền bạc lâu dài, đương số cần tránh các tuổi sau đây trong các việc có liên quan đến tiền bạc, đảm nhiệm chức vụ, giao phó công việc quan trọng, có thể gây ra cho đương số phần nào thiệt hại về tài sản, uy tín:

- Nhâm Tuất (sinh năm 1982)
- Giáp Dần (sinh năm 1974)
- Canh Thân (sinh năm 1980)
- Ất Mão (sinh năm 1975)
- Bính Thìn (sinh năm 1976)



7. Tình Duyên Và Hôn Nhân


Hạnh phúc con người được quyết định không chỉ ở công danh, quyền lực, tiền bạc, của cải vật chất, tiếng tăm cùng danh vọng, mà một phần lớn bởi cuộc sống hôn nhân. Do đó cung Phu Thê được người xưa xem trọng, coi như một cường cung ngang hàng với các cung khác như cung Mệnh, cung Quan Lộc, cung Tài Bạch, cung Phúc Đức.

Cung Phu Thê của đương số có sao Thất Sát cực tốt và hợp với mạng Hỏa của đương số, nên người hôn phối là người có danh giá, đảm đang, con trưởng, có tàị Đây là sao chủ về oai vũ, uy quyền, đi tiên phong, ưa hoạt động, phối hợp với các sao Kình Dương, Quan Phù, Quan Phủ đồng cung, cùng với bộ sao Văn Xương, Văn Khúc, Ân Quang, Thiên Quý, Tấu Thư, Hóa Khoa ở hai cung Quan Lộc và Thiên Di chiếu về. Do đó người hôn phối là người có thực tài, lý luận uyên bác, có cơ mưu, có tài lãnh đạo và biết quyền biến, nhiếp phục được người khác kể cả cường đồ hay tiểu nhân, có tính cương quyết, dám nói dám làm và nóng nảy ngầm, cương nghị, có danh chức lớn trong xã hội và mọi nguời đều phải uy khiếp, phục tòng.

Có thể nói đường hôn nhân của đương số gặp người tài năng, có địa vị trong xã hội, nhưng điều cần lưu ý ở đây là bản thân cung Mệnh của đương số có sao Liêm Trinh, Hóa Kỵ, Đẩu Quân cũng là loại sao thẳng thắn, có ý chí, không chấp nhận hoàn cảnh hiện có, ít chịu sự áp đặt của người khác. Cho nên trong cuộc sống chung dễ có sự xung khắc về ý tưởng, quan niệm sống, khắc khẩu, bất hòa. Người hôn phối là một nửa cuộc sống của người kia, cho nên đương số cần phải khéo léo sao cho dung hòa và nhường nhịn nhau thì cuộc sống lứa đôi mới lâu dài và êm đẹp được.



8. Những Tuổi Hợp Cho Hôn Nhân


Việc xây dựng hạnh phúc gia đình trong hôn nhân, bạn cũng cần nên tìm cho mình những tuổi hợp; Những tuổi có thể làm cho gia đình êm ấm, hạnh phúc vui tươi, cơ nghiệp được phát triển mạnh mẽ, và nhất là tránh được những bất hòa đã có sẵn do các sao trong cung Mệnh của đương số và cung Phu Thê đã nói ở trên. Đó là các tuổi:

- Mậu Ngọ (sinh năm 1978)
- Bính Dần (sinh năm 1986)
- Đinh Tỵ (sinh năm 1977)



9. Những Tuổi Kỵ Cho Hôn Nhân


Ngoài việc chọn các tuổi hợp về hôn nhân, đương số cũng cần lưu ý các tuổi khắc kỵ sau đây để tránh những chuyện buồn thương về tình cảm, tình duyên khi mới quen nhau hay định cuộc hôn nhân:

- Canh Thân (sinh năm 1980)
- Nhâm Tuất (sinh năm 1982)
- Ất Sửu (sinh năm 1985)



10. Tử Tức & Thân Thuộc


Trong lá số cung Tử Tức là cung nói về con cái như thế nào về sức khỏe, bổn mạng, tính tình, sự nghiệp công danh, tài lộc của chúng, mối tương quan giữa con cái và cha mẹ như thế nàọ Ngoài ra trong thực tế, cung Tử Tức còn ám chỉ gián tiếp nhiều loại người có liên quan mật thiết đến đời sống qua sự bảo trợ, nuôi nấng, giúp đỡ hay chăm sóc của đương số trong nhà hay ở ngoài xã hộị Các giới này có thể là người già lão, cô nhi, quả phụ, cơ quan thiện nguyện, từ thiện, hội ái hữu, học trò.

Cần lưu ý con cái nguyên thủy là do cha và mẹ tạo thành, nên chỉ có thể dự đoán một cách tương đối nếu chỉ căn cứ vào một lá số của một ngườị Nói chung cung này khả dĩ biểu trưng cho con cái đối với đương số như thế nào cùng trách nhiệm và bổn phận của đương số đối với chúng ra sao mà thôị

Cung Tử Tức của đương số trước hết có các sao Cô Thần, Lộc Tồn, cung Mệnh của đương số có sao Hóa Kỵ, Đẩu Quân đều chỉ sự hiếm con, ít con. Trong khi đó cung Tử Tức lại có thêm các sao Thiên Riêu, Triệt đều chỉ sự đông con, nên đương số có thể được hai con.

Khi đương số sinh đứa con đầu lòng thì khó nuôi con hoặc sinh con phải có sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật khoa sản phụ. Con cái đối với đương số thường sống xa cách, mỗi người một nơi, công danh sự nghiệp chỉ ở mức trung bình, khó nhờ được con. Sự khó nhờ này không phải do tiền bạc, của cải vật chất của con cái ít ỏi, mà do tính tình của đương số và con cái khác nhau, có sự xung khắc. Sức khỏe con cái cũng không được tốt.

Do có sao Thiên Lương và hai sao Thiên Khôi, Thiên Việt ở cung Phụ Mẫu, Điền Trạch chiếu về, nên dù tính tình con cái có phong lưu mã thượng đến mấy cũng giữ được chút nề nếp và tư cách tốt đẹp, có nhân tính, dù dôi khi cũng có lúc bốc đồng làm liềụ

Cũng với nhóm sao này, ngoài con cái đương số còn có trách nhiệm hay tự nguyện chăm sóc, bảo bọc cho song thân, người cô độc, tật nguyền trong gia tộc, các người có hoàn cảnh neo đơn, khó khăn về kinh tế qua sự tham gia hay đóng góp vào các cơ quan từ thiện, hội ái hữu, các tổ chức phi lợi nhuận. Nếu đương số thực hiện tốt được điều này thì những điều không thuận lợi về sức khỏe, công danh con cái sẽ được cải thiện khá nhiều, và đương số cũng nên hướng dẫn con cái vào các công việc mang lại nhiều lợi ích mọi mặt cho chính bản thân con cáị.



11. Những Năm Nên Sinh Con



Có thể nói cung Tử tức của đương số không được tốt cho lắm, cho nên đương số cần lưu ý các năm tốt sau đây để sinh con, có thể hóa giải phần nào về những khó khăn nói trên:

- 26 tuổi (năm Tân Mão 2011)
- 33 tuổi (năm Mậu Tuất 2018)
- 34 tuổi (năm Kỷ Hợi 2019)
- 36 tuổi (năm Tân Sửu 2021)
- 40 tuổi (năm Ất Tỵ 2025)



12. Những Năm Không Nên Sinh Con


Sau đây là những năm không nên sinh con vì rất dễ gặp phải cảnh sinh con khó nuôi, dễ đau ốm, cha mẹ bị tán tài, hoặc gia đạo có sự bất hòa:

- 27 tuổi (năm Nhâm Thìn 2012)
- 28 tuổi (năm Quý Tỵ 2013)
- 30 tuổi (năm Ất Mùi 2015)
- 31 tuổi (năm Bính Thân 2016)
- 37 tuổi (năm Nhâm Dần 2022)
- 38 tuổi (năm Quý Mão 2023)



13. Tai Nạn Và Bệnh Tật Trong Cuộc Đời



Cung Tật Ách là cung biểu tượng cho những tai nạn hay bệnh tật xảy ra trong cuộc đời của đương số. Chúng bao gồm những tai ách, bệnh tật, biến cố xảy ra cho cơ thể, sinh mạng, nghề nghiệp, tài sản, gia đạo. Ngoài ra do cung này luôn tương hợp với cung Điền Trạch là cung phúc đức thứ hai, nên cung Tật Ách còn biểu tượng cho hình ảnh, hoàn cảnh của đương số lúc tuổi già cùng nói lên đám tang của chính mình ra sao do phước đức của chính hành động tạo nghiệp của đương số trong suốt quá trình sinh sống.

Cung Tật Ách của đương số có các sao Cự Môn, Thiên Cơ, Hóa Quyền, Đào Hoa, Bát Tọa, Thanh Long, Thiên Không, Hỏa Tinh miếu địa, đều là sao tốt, nên trong cuộc đời tai họa về công danh, tài lộc không có sự thiệt hại nặng.

Với các sao Lưu Hà, Phá Toái, Địa Kiếp, Hóa Lộc ở các cung Huynh Đệ, Phụ Mẫu, Điền Trạch chiếu về, đương số trong đời sẽ có sự bộc phát công danh, tiếng tăm trong đoàn thể, được tưởng thưởng, lộc bất ngờ tuy là chỉ là ngắn ngủi và lợi ích vật chất không nhiều. Điều quan trọng là đương số không nên lấy điều này làm sự tự mãn, kiêu ngạo, sẽ bị nhiều đố kỵ, ghen ghét từ tha nhân do cung Mệnh có sao Hóa Kỵ. Cũng với nhóm sao này đương số gặp thời xấu phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người khác do tính toán sai lầm của chính mình qua pháp luật, khế ước, nhưng mức độ bồi thường không nặng, chỉ e sợ có tai tiếng thị phi, và đương số hay có sự dằn vặt với chính mình.

Về bệnh tật, với các sao trong cung Tật Ách nêu trên đều chủ về bệnh tâm khí, thần kinh, bệnh ở phần hạ bộ, bệnh về hệ thống tuần hoàn. Tuy các sao Hóa Quyền, Hỏa Tinh có nghĩa là máu huyết, thần kinh nhưng đều là các tốt nên đương số có bệnh tật này cũng gặp thầy hay thuốc tốt cứu giải và bệnh không cũng không nặng.



14. Những Diễn Tiến Trong Cuộc Ðời


Khoa Tử Vi quan niệm con người một cách toàn diện, bao hàm cả thể xác lẫn tinh thần, cả di truyền lẫn bản tính cá nhân, cả môi trường gia đình lẫn môi trường xã hội, cả công danh lẫn tài lộc. Sự tác động qua lại của các yếu tố trên trình bày những diễn tiến thăng hay trầm trong cuộc đời của đương số được khoa Tử Vi biểu tượng từng thời hạn 10 năm tương ứng với mỗi cung, được gọi là các Đại Hạn như sau:


14.1. Đại hạn ở cung Huynh Đệ tại Mùi: Từ 16 tuổi đến 25 tuổi

Trong thời vận này, cung Huynh Đệ là cung Vô Chính Diệu giáp các sao Tả Phù, Hữu Bật, Long Trì, Phượng Các, Thiên Mã, Kình Dương, Hóa Kỵ, có các sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Đào Hoa, Linh Tinh, Hỏa Tinh, cùng hai sao Thái Âm, Thái Dương đồng cung chiếu về là hạn tương đối tốt. Đường học vấn, công danh của đương số có sự thuận lợi nhưng không nên có sự ỷ lại, tự mãn. Nguyên nhân do có các sao hung Thiên Hình, Địa Không, Tướng Quân ở cung Thiên Di chiếu đưa đến có sự trắc trở trong việc thi cử, tốt nghiệp hay thiếu một vài điều kiện về điểm chọn trường đại học. Nhưng nói chung đường công danh, học vấn cũng có sự thành công, có chút tiếng tăm và tài lộc trung bình. Đương số nên tận dụng những tài năng, năng khiếu riêng tư đặc biệt của mình về nghệ thuật để thu phục nhân tâm và là lợi điểm trong quan trường.

Thứ hai, trong hạn này có các sao Đào Hoa, Hồng Loan ngoài tính chất đem lại cho đương số sự may mắn, tài hoa trong khả năng, năng khiếu, công danh, còn chủ về tình cảm, tình duyên. Nên đương số không nên đặt nặng chuyện tình cảm, kết bạn với người khác phái so với đường công danh sự nghiệp của mình. Sự nghiệp là chính, tình cảm, duyên tình là phụ.

Đối với những người thân tộc của đương số, trong hạn này cũng do có các sao Đào Hoa, Hồng Loan tác dụng không tốt đến sức khỏe, bổn mạng của người cao tuổi phái nữ. Nên trong hạn này còn là hạn có bệnh tật, tai nạn, tang ma của người thân phái nữ cao tuổi.


14.2. Đại hạn ở cung Phu Thê tại Ngọ: Từ 26 tuổi đến 35 tuổi

Hạn đến cung Phu Thê có các sao Thất Sát, Kình Dương, Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế, thêm các sao Văn Xương, Văn Khúc, Ân Quang, Thiên Quý, Tấu Thư, Hóa Khoa chiếu về là hạn tốt, thành công. Mọi mưu cầu về công danh, sự nghiệp, tình cảm, tiền tài đều thành tựu nhanh chóng. Đây là hạn khởi đầu cơ nghiệp, hạn của hành động dấn thân và kết quả đạt được về quyền lực, uy tín, tiền bạc, danh dự ở giai đoạn này là nền tảng cùng kinh nghiệm cho các thòi vận sau này.

Nếu có sự tranh chấp hay có các việc liên quan đến pháp luật, kiện tụng đều có thể thành công. Tiếng tăm của đương số cũng bắt đầu từ đây. Sự nghiệp nào cũng phải có vây cánh, bạn bè, phụ tá. Giai đoạn này đương số sẽ có nhiều người tài giỏi và đắc lực hỗ trợ cho đương số. Tuy nhiên việc gì cũng có mặt trái của nó. Do cung Mệnh của đương số có sao Hóa Kỵ là sao chủ sự ganh tỵ, ghen ghét, đố kỵ, thị phi, tai tiếng. Nên tuy sao này có làm cho đương số thành danh, nổi tiếng, nhưng ở hạn này với các bộ sao mạnh mẽ của cách Sát Phá Tham sẽ gây ra ít nhiều sự phiền lòng do sự lấn át quyền lực của đồng sự, người hợp tác, người dưới quyền muốn tranh thắng với đương số.

Cho nên mọi giao dịch, hứa hẹn, hợp đồng, khế ước, hùn hạp đều phải rõ ràng chính xác về quyền lợi và nghĩa vụ để tránh sự tranh chấp hay lật lọng sau này. Đương số cũng cần thận trọng trong việc chọn bạn, người hợp tác, vì sẽ có những người tuy có tài năng nhưng họ đến với đương số chỉ để trục lợi hay chỉ nương tựa nơi đương số một giai đoạn nào đó.

Về phần của đương số, cũng không nên có sự cứng rắn quá đáng hay có sự tự phụ dù cố ý hay vô tình chỉ gây thêm lòng đố kỵ của những người có liên quan mật thiết với mình trong công việc. Sự báo thù hay trả đũa của họ rất dễ xảy ra, tuy không gây cho đương số những thiệt hại lớn nhưng sẽ làm giảm uy tín của mình trong cộng đồng, xã hội hay đương số phải nhọc công đối phó, và một phần nào bị giảm về sự hậu thuẫn. Trong hạn này, đương số cũng đề phòng các tai nạn, bệnh tật như đã nói ở trên và các việc liên quan đến di chuyển, sử dụng xe cộ.


14.3. Đại hạn ở cung Tử Tức tại Tỵ: Từ 36 tuổi đến 45 tuổi

Hạn ứng vào cung Tử Tức có các sao Thiên Lương, Thiếu Âm, Lộc Tồn, Thiên Riêu, Cô Thần với sao Triệt án ngữ, có thêm các sao Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Phá Toái, Bệnh Phù, Hóa Lộc, Thiên Khôi, Thiên Việt chiếu về.

Có thể nói thời vận ở hạn này được cách song Lộc là cách tốt, hưng vượng tiền bạc, của cải vật chất, nhưng vì có nhiều sao hung xâm phạm nên cần lưu ý các điểm cốt yếu như sau:

Thời vận của đương số ở giai đoạn này, mọi việc về công danh, nghề nghiệp, kế sách làm ăn, thời cuộc đều thay đổi toàn diện, không giống như thời vận của 10 năm trước. Với cách song Lộc gồm Lộc Tồn, và sao Hóa Lộc ở cung Điền Trạch chiếu về, đủ bảo đảm cho đương số về sự nghiệp, tiền tài bất luận tình thế xảy ra như thế nào vẫn để cơ nghiệp của đương số có cơ hội tồn tại. Tuy nhiên sự may rủi thành bại bao giờ cũng đi liền nhau, và có lúc đương số bị đứng trong thế bị động hay công danh bị gián đoạn trong thời gian ngắn. Đây là hạn mọi việc đương số không thể tiến nhanh, không nên ngồi tại chỗ mà phải bôn ba để không nương tựa vào một nơi nào, một nhóm người nào, phải tìm kiếm nhiều nhóm, nhiều nơi khác nhau để dự phòng.

Đặc điểm của thời vận này là đương số một khi muốn tiến hành một công việc gì đều phải tính toán thận trọng, vì sau đó tình hình thực tế và sự kết thúc sẽ không bao giờ đúng như sự tính toán của đương số. Nói chung là đương số ở vào thời vận đem lại những công việ không tương xứng với mình, tức tài năng thì có nhưng thời vận thì yếu nhược. Cho nên đôi khi đương số phải làm những công việc có tính tạm thời, bất đắc dĩ.

Đặc điểm kế tiếp là về vấn đề nhân sự. Mọi sự quen biết, giao dịch với tha nhân hay tìm người giúp việc cho mình đều gặp những người yếu về khả năng, tính toán vụn vặt và hay có tính muốn bỏ đi, lui tới thất thường, bội tín khi đương số gặp trở ngại. Cho nên đương số phải nhọc công thêm khi giải quyết các việc vì không thể tin cẩn được họ.


14.4. Đại Hạn ở cung Tài Bạch tại Thìn: Từ 46 tuổi đến 55 tuổi

Hạn ứng vào cung Tài Bạch có các sao Tử Vi, Thiên Tướng, Tang Môn, Thiên Khốc, Đà La với sao Triệt án ngữ.

Vào hạn này đường công danh sự nghiệp của đương số lại có sự thay đổi hoàn toàn đi vào một đường hướng khác, nói chung là hạn tương đối tốt đẹp. Mọi sự biến chuyển hay thay đổi đều có sự khởi đầu chậm chạp nhưng đương số không nên lấy đó làm buồn phiền vì tuy chậm chạp nhưng chắc chắn, trước khó sau dễ dàng.

Đặc điểm của hạn này nếu có rủi ro hay trở ngại nào đến cũng nhẹ nhàng, dễ dàng vượt qua và sau đó lại có sự thăng tiến về công danh, sự nghiệp và mở ra nhiều cơ hội tham gia trong nhiều lĩnh vực khác đem lại tài lộc và danh vọng của đương số.

Do cung Mệnh có sao Hóa Kỵ, đương số dù làm gì thành hay bại, danh tiếng là điều quan trọng cho tương lai kế tiếp. Sẽ có những tranh chấp, kiện cáo, đố kỵ, thị phi của người khác đối với đương số, cho nên đương số cần thận trọng trong mọi cuộc giao tiếp về ngôn ngữ cũng như mọi giao ước, giấy tờ cho thật kỹ càng để tránh những sự thiệt hại không đáng có dù là vật chất hay tinh thần danh dự.

Nếu đương số làm duới quyền ai, dù họ có tốt và thật lòng yêu mến và giúp đỡ, đương số cũng không nên nương tựa tuyệt đối mà hãy tự lo cho mình những con đường khác. Vì sự thất bại, tai nạn hay rủi ro của họ sẽ ảnh hưởng đến công danh, việc làm của đương số như nghề nghiệp bị gián đoạn, sút giảm về hậu thuẫn đưa đến phần nào đương số bị cô lập hay khó xoay trở.


14.5. Đại Hạn ở cung Tật Ách tại Mão: Từ 56 tuổi đến 65 tuổi

Hạn ứng vào cung Tật Ách có các sao Cự Môn, Thiên Cơ, Thiên Không, Hỏa Tinh, Đào Hoa, Hóa Quyền, cùng với các sao Thiên Khôi, Thiên Việt, Hóa Lộc, Lưu Hà, Phá Toái, Bệnh Phù, Phục Binh, Địa Kiếp ở các cung Huynh Đệ, Phụ Mẫu, Điền Trạch chiếu về.

Vào hạn này đương số mưu sự việc gì cũng thành công một cách nhanh chóng, gia đạo có hỷ sự, tiền tài sung túc, có danh chức và tiếng tăm, nói được nhiều người nghe theọ Nếu có sự tranh chấp hay kiện cáo với người khác cũng thắng lợi.

Đặc điểm ở hạn này đương số có lộc bất ngờ từ sự bồi thường thiệt hại do người khác hay do tai nạn, thiên tai, hoặc do chính sách của chính phủ hoạch định có lợi cho xã hội gây thiệt hại cho tài sản, vật chất của đương số.

Tuy là hạn tốt nhưng ở cung này có sao Thiên Không, Hỏa Tinh, Phục Binh, Địa Kiếp, cung Mệnh có sao Hóa Kỵ, đương số cần giữ sức khỏe cho tốt và nên cư trú những vùng có khí hậu ôn hòa, ít thiên tai mới thuận lợi cho sức khỏe bản thân. Còn về công danh sự nghiệp đương số cũng có những thắng lợi nhất định, nhưng phải biết dừng đúng lúc. Vì các sao trên đều chỉ sự rủi ro, hư hại, mất của, tai nạn, bệnh tật hay công danh, sự nghiệp, tình cảm của con cái gây nhiều lo lắng cho mình.


14.6. Đại Hạn ở cung Thiên Di tại Dần: Từ 66 tuổi đến 75 tuổi

Hạn ứng vào cung Thiên Di tại Dần có sao Tham Lang, Thái Tuế, hai sao Linh Tinh, Hỏa Tinh giáp hai bên.
Do có bộ sao Linh Hỏa giáp ảnh hưởng phần lớn đến sức khỏe của đương số và đây cũng là hạn cuối đời của đương số, nên đây là kết quả của hạn trước. Cho nên ở hạn trước dù đương số làm gì bao giờ cũng lấy sức khỏe bản thân và hòa khí trong nhà làm chính, vì các sao trên dễ khiến cho đương số bệnh ở chân tay đi đứng khó khăn. Không nên xem trọng về tiền tài vật chất, chuyện hơn thua với người đời chỉ thêm vất vả. Mọi tính toán làm ăn ở giai đoạn này dù có thành cũng dễ bị gãy ngang và không thể một sớm một chiều kết thúc cho êm đẹp được.



15. Lời Cuối

Trong cuộc đời dù bất cứ ai, cũng có lúc thành công và cũng có khi thất bạị Đối với vận số trọn đời của đương số, đường công danh sự nghiệp thành nhiều bại ít. Thành công ở chỗ có danh chức, tiền bạc, danh vọng, nổi tiếng, người cao quý được sự nể trọng của tha nhân và xã hội. Thất bại ở chỗ đương số vì quá nghiêm khắc, cứng rắn, không tha thứ, bao dung sự sai quấy của người khác mà lại lên án họ, thì sự hiềm khích, thị phi, đố kỵ phải xảy ra đưa đương số thêm thù bớt bạn, làm giảm hậu thuẫn cho đương số. Sự kiện này cũng ảnh hưởng phần nào không tốt đến hòa khí trong gia đạo giữa đương số với chồng, con cái và thân thuộc.

Con người dù bất cứ ai đôi khi cũng nên biết thông cảm với người khác. Nói như thế không có nghĩa đương số bỏ qua những sai phạm của họ, mà nên biết nhu nhuyễn và cho họ một cơ hội để sửa chữa, sau mới dùng biện pháp cứng rắn.

Cuộc đời của đương số bao giờ cũng hay lo lắng, suy nghĩ, tâm trí ít được nghỉ ngơi, thường phải đi nhiều nơi đến nhiều chỗ gánh vác lấy công việc lo cho bản thân, gia đình cùng xã hộị Cho nên tự đương số nên tạo một cơ hội lo về sức khỏe của chính mình qua giải trí, du lịch. Danh tiếng hay giàu sang quá đôi khi cũng là một gánh nặng vì phải lo toan bảo toàn. Nếu trong đời đương số có gặp khó khăn, thất bại, tai tiếng thì cũng không nên lấy đó làm buồn phiền. Điều quan trọng là đương số nên cố gắng ẩn nhẫn và chịu đựng qua những lúc khó khăn của cuộc đời.

Nên biết rằng, đã vào đời thì bất cứ ai cũng phải có những lúc vui vẻ và những lúc buồn rầụ Tuy nhiên đương số không nên để cho buồn rầu hay thất bại khiến mình trở nên càng đau khổ hơn. Con người dù bất cứ ai cũng cần phải trải qua những đau khổ hay thất bại mới có thể trưởng thành và thông cảm cho người khác. Nếu đương số hiểu được và sống được với điều này thì thất bại chính là mẹ thành công. đương số cũng nên biết rằng số phận là do chính mình đã tạo cho cuộc sống hiện tại và đang chuẩn bị cho kiếp sống tương lai. Đó là ý nghĩa câu Đức Năng Thắng Số.

Chúc đương số luôn có được cuộc sống tốt đẹp và thăng tiến để cống hiến cho cuộc đời dù trong hoàn cảnh thành công hay thất bại.









Trở Về Trang Đầu Tiên